Cơ chế kiểm soát các nhà cung cấp

Một trong các biến chứng quan trọng của tiểu đường là suy thận và từ đó làm tăng nguy cơ của các bệnh tim mạch. Với xuất độ tiểu đường ngày càng tăng, điều trị các biến chứng của tiểu đường là một gánh nặng cho các quốc gia nhất là các quốc gia đang phát triển. Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ rằng điều trị tiểu đường tích cực có thể ngăn ngừa biến chứng ở thận. Một số nghiên cứu nhỏ cho thấy điều trị tích cực cũng làm chậm sự tiến triển của suy thận ở giai đoạn I và II.

Shurraw S. và csv trong một nghiên cứu dựa trên 23.296 bệnh nhân cho thấy rằng ở bất cứ giai đoạn suy thận nào huyết sắc tố A1C cao làm tăng các biến chứng gồm tử vong, tiến triển của bệnh thận, suy thận giai đoạn cuối, biến chứng tim mạch và nhập viện vì mọi nguyên nhân.

Tỉ lệ tử vong vì suy thận do tiểu đường giảm khi HbA1C giảm xuống 7% nhưng tăng khi HbA1C thấp hơn 6.5% hoặc cao hơn 8.0%.

Nguy cơ tiến triển từ suy thận giai đoạn III (Lọc cầu thận-LCT 30.0-59.9 ml/mi/1.73m2) đến suy thận giai đoạn V là 22% đối với HbA1C từ 7%-9% và 152% đối với HbA1C trên 9% so với HbA1C dưới 7%, nguy cơ tiến triển từ suy thận giai đoạn IV (LCT 15.0-29.9 ml/mi/1.73m2) đến suy thận giai đoạn V là 3% đối với HbA1C từ 7%-9% và 13% đối với HbA1C trên 9%.

Điều trị tiểu đường tích cực làm chậm sự tiến triển của suy thận ở mọi giai đoạn nhưng đạt kết quả cao hơn ở các giai đoạn sớm hơn.

Hướng dẫn của Hội Thận học Hoa kỳ năm 2007 khuyên hạ HbA1C xuống dưới 7% và đối với suy thận từ giai đoạn 3 đến 5 cần thận trọng vì sự giảm khối lượng thận (renal mass) kèm theo giảm chuyển hóa insulin và rối loạn của sự tân tạo glucose (gluconeogenesis) khiến cho bệnh nhân dễ bi hạ đường huyết hơn. Trong thực tế, đối với những bệnh nhân trên 65 tuổi, có nhiều bệnh mãn tính, không có hy vọng sống trên 5 năm nên hạ HbA1C xuống đến 8%.

Bác sĩ Nguyễn văn Đích

Gọi điện SMS Chỉ Đường